Một số nguyên nhân gây bệnh ung thư

Nhắc đến căn bệnh ung thư người ta nghĩ ngay đến những căn bệnh quái ác mà người mắc phải nó giống như đang mang một mức án “tử hình”. Nhiều người nghĩ rằng ung thư là một căn bệnh thật đáng sợ. Trên thực tế, mỗi loại ung thư có những nguyên nhân riêng biệt. Một tác nhân sinh ung thư có thể gây ra một số ung thư và ngược lại một loại ung thư có thể do một số tác nhân. Nguyên nhân từ lối sống, một số bệnh nhiễm trùng mạn tính, một số loại vi khuẩn, vi rút hoặc ký sinh trùng cũng là một trong những tác nhân sinh ra nhiều loại ung thư.

Một số nguyên nhân gây bệnh ung thư

Ung thư có thể bắt nguồn từ lối sống và chế độ ăn uống

8 nguyên nhân từ lối sống

1. Hút thuốc lá

Người hút thuốc lá có nguy cơ ung thư cao hơn người không hút thuốc lá từ 7-11 lần. Các bệnh về phổi, thanh quản, thực quản… có liên quan chặt chẽ đến hút thuốc lá.

2. Tập thể dục mỗi ngày dưới 30 phút

Các chuyên gia cho rằng, lối sống ít vận động (một ngày ngồi quá lâu) sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư. Kết quả nghiên cứu cho thấy, những người thường xuyên duy trì hoạt động thể chất có thể ngăn ngừa ung thư ở một số bộ phận, chẳng hạn như ung thư ruột.

3. Uống rượu

Cho dù là rượu, bia, hay rượu vang, cùng với việc tăng lượng hấp thu thì nó còn có thể khiến bạn tăng nguy cơ ung thư họng, ung thư thanh quản và ung thư khoang miệng. Nếu như bạn muốn uống rượu thì đối với nam giới mỗi ngày không nên uống quá 10-15g rượu, nữ giới không quá 10g rượu/ngày.

4.Thường xuyên uống đồ ngọt

Thức uống có đường cung cấp năng lượng và nó có thể khiến bạn trở nên béo phì. Béo phì đã trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư.

5. Ít ăn trái cây và rau xanh

Hoa quả và rau xanh có thể giảm xác suất bị mắc các bệnh ung thư như ung thư thực quản, ung thư họng, ung thư phổi…

Mỗi ngày nên ăn ít nhất 400g các loại rau sạch và hoa quả, tốt nhất là các loại bao gồm các màu sắc khác nhau như đỏ, xanh, vàng, tím…

6. Ăn quá nhiều thịt

Trong một bữa ăn nếu bạn ăn quá nhiều thịt thì có thể dễ dẫn đến nguy cơ mắc ung thư tuyến tụy, ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt. Hàng tuần lượng thịt hấp thu nên dưới 500g, trong bữa ăn nên ít ăn các sản phẩm chế biến từ thịt.

7. Ăn mặn

Muối và các thức ăn mặn sẽ làm tăng tỷ lệ mắc ung thư dạ dày. Lượng muối hấp thu mỗi ngày nên dưới 6g.

8. Thiếu sự nuôi dưỡng “sữa mẹ”

Nuôi dưỡng “sữa mẹ” có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú trong giai đoạn tiền mãn kinh và nguy cơ ung thư buồng trứng, đồng thời còn có thể giúp phòng thiếu cân ở trẻ em, giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư trong tương lai.

Nguyên nhân từ chế độ ăn và ô nhiễm thực phẩm

Bản thân thực phẩm không gây ung thư nhưng các chất bảo quản thực phẩm, các chất trung gian chuyển hoá và các chất sinh ra từ nấm mốc là nguyên nhân dẫn đến ung thư. Ngày nay người ta còn thấy mất cân bằng các thành phần trong chế độ ăn, nhiều chất béo quá làm tăng nguy cơ ung thư. Các nhà khoa học đã chứng minh được là có khoảng hơn 30% số trường hợp ung thư liên quan đến chế độ ăn. Dưới đây là một số phân tích cụ thể:

Bình thường trong rau cải hàm lượng nitrit chỉ ở dạng vết nhưng khi muối dưa thì hàm lượng nitrit tăng lên do quá trình vi sinh khử nitrat có trong rau thành nitrit. Khi dưa bị khú thì hàm lượng nitrit tăng cao nhất. Trong cơ thể các nitrit sẽ tác dụng với amin bậc 2 có trong một số thức ăn như tôm, cá, đặc biệt là mắm tôm tạo thành hợp chất nitrosamin. Đây là chất gây ung thư mạnh trên thực nghiệm. Chính vì vậy nên hạn chế ăn dưa muối, đặc biệt không ăn dưa khú.

Benzopyrene được tạo ra khi thịt được nướng bằng than hoặc xông khói. Benzopyrene cũng được tạo ra khi rán thức ăn bằng dầu/mỡ đã sử dụng. Đây là chất đã được chứng minh gây ung thư mạnh trên thực nghiệm. Để hạn chế nguy cơ gây ung thư từ benzopyrene nên tránh nướng thức ăn khi lò còn khói và nên hạn chế ăn thức ăn nướng hoặc rán.

Nấm mốc Aspergillus flavus thường có ở gạo và lạc bảo quản không tốt, tiết ra chất độc có tên aflatoxin gây ung thư gan. Chế độ ăn nhiều mì chính, ăn mặn cũng là yếu tố nguy cơ gây ung thư, đặc biệt là ung thư đường tiêu hoá như ung thư dạ dày.

Rượu không sinh ung thư nhưng rượu mạnh gây bỏng mạn tính niêm mạc hạ họng và thực quản có thể gây ung thư sau này. Người ta ăn trầu thường phải có vôi, vôi đã tôi là chất kiềm có thể làm bỏng niêm mạc miệng, họng.

Về chế độ ăn, thức ăn có nhiều chất béo động vật gây tăng nguy cơ ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư đại trực tràng. Trái lại chế độ ăn có nhiều rau xanh, hoa quả và nhiều chất xơ có thể làm giảm nguy cơ các ung thư này.

Nguyên nhân từ nhóm vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng

Nguyên nhân do vi rút

Vi rút viêm gan B và ung thư gan nguyên phát

Hiện nay trên toàn thế giới có khoảng hơn 2 tỷ người bị nhiễm vi rút viêm gan B. Trong đó có khoảng 280 triệu người bị viêm gan mãn tính. Ở Việt Nam, những nghiên cứu bước đầu cho thấy tỷ lệ mang vi rút viêm gan B là 12,5% dân số.

Giai đoạn đầu vi rút này xâm nhập vào cơ thể gây ra viêm gan cấp, nhiều khi bệnh chỉ biểu hiện thoáng qua. Khoảng 5-10% bệnh cấp tính trở thành mạn tính. Tổn thương này qua một thời gian dài tiến triển, không có triệu chứng sẽ dẫn đến hai biến chứng quan trọng là xơ gan toàn bộ và ung thư gan.

Vi rút Estein – Barr (EBV) và ung thư vòm mũi họng:

Trong số các yếu tố liên quan đến ung thư vòm thì EBV được xem là quan trọng nhất. Người ta đã phân lập được loại vi rút này trong các khối ung thư vòm mũi họng. Ngoài ra EBV còn là một trong những nguyên nhân chính gây ra ung thư hệ thống hạch bạch huyết.

Ung thư vòm mũi họng là bệnh đứng hàng đầu trong các ung thư ở khu vực đầu mặt cổ. Nước ta là một trong các nước có tỷ lệ mắc cao so với Thế giới. Hàng năm, trung bình có từ 250 – 300 bệnh nhân mới mắc ung thư vòm mũi họng điều trị tại khoa tia xạ Bệnh viện K.

Vi rút gây u nhú có liên quan mật thiết với các ung thư vùng âm hộ, âm đạo, cổ tử cung ở nữ giới và ung thư dương vật ở nam giới.

Đặc biệt là vi rút gây u nhú loại ở người ( HPV) típ 16 và 18, lây truyền qua quan hệ tình dục. Ung thư cổ tử cung là một trong những ung thư hay gặp nhất ở phụ nữ. Qua số liệu của Ghi nhận Ung thư TP Hồ Chí Minh giai đoạn 1995-1996 cứ 100.000 phụ nữ thì có 26 người mới mắc ung thư cổ tử cung. Ở Hà Nội, tỷ lệ này thấp hơn nhiều, nguyên nhân có thể do tỷ lệ nhiễm vi rút HPV thấp hơn. Ung thư cổ tử cung gặp nhiều ở những phụ nữ quan hệ tình dục sớm, với nhiều đàn ông hoặc có quan hệ với những người đàn ông có quan hệ tình dục với nhiều phụ nữ hoặc với gái mại dâm, sinh đẻ nhiều, thiếu săn sóc vệ sinh sinh dục… Đó cũng là những yếu tố thuận lợi cho sự lây nhiễm các loại vi rút u nhú và nhiều bệnh nhiễm trùng sinh dục khác.

HIV tuy không phải là tác nhân trực tiếp gây ung thư nhưng ở các bệnh nhân bị nhiễm HIV, hệ miễn dịch suy giảm nên rất dễ mắc các bệnh nhiễm trùng khác.

Người ta thấy rằng tỷ lệ saccôm Kaposi, ung thư cổ tử cung, ung thư hạch ở các bệnh nhân bị AIDS cao hơn hẳn người bình thường.

Nguyên nhân do vi khuẩn

Vi khuẩn Helicobacter Pylori ( HP) và ung thư dạ dày.

Ở nước ta ung thư dạ dày là bệnh gặp nhiều ở cả hai giới, đứng thứ hai trong các loại ung thư. Nam giới mắc ung thư dạ dày nhiều hơn nữ giới. Năm 2000 ước tính có 9.129 người mới mắc ung thư dạ dày được phát hiện. Các nghiên cứu cho thấy có sự liên quan mật thiết giữa viêm dạ dày do vi khuẩn HP với ung thư biểu mô tuyến của dạ dày và, đặc biệt là u limphô ác tính tại dạ dày. Khi điều trị bệnh do vi khuẩn HP thì các u limphô ác tính trên cũng biến mất. Nếu bị viêm loét dạ dày nên điều trị sớm và triệt để, để tránh sự biến chứng thành ác tính sau này.

Ung thư dương vật gặp nhiều ở những nam giới bị hẹp bao qui đầu.

Trên những người này rất khó vệ sinh niêm mạc qui đầu, nên bị ứ đọng cặn nước tiểu cùng với vi trùng là nguy cơ gây ung thư. Trẻ nhỏ hẹp bao qui đầu cần tách nong bao qui đầu, lộn rửa thường xuyên, hoặc cắt bao qui đầu trước tuổi trưởng thành để phòng tránh ung thư dương vật.

Ký sinh trùng và ung thư

Ung thư bàng quang và một số ung thư niệu quản có liên quan chặt chẽ với nhiễm ký sinh trùng.

Sán lá gan là yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư đường mật. Người ăn phải cá có mang trùng sán chưa nấu chín sẽ mắc bệnh. Nước ta, ở một số địa phương có tập quán ăn cá gỏi, vệ sinh ngoại cảnh không tốt, tỷ lệ nhiễm sán trong nhân dân rất cao.

Nhiễm trùng là bệnh lý phổ biến nhất ở những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Việc phòng chống các bệnh nhiễm trùng đã và đang được đặt lên hàng đầu. Ung thư tuy không phải là bệnh nhiễm trùng nhưng việc phòng chống các bệnh nhiễm trùng cũng đồng thời góp phần vào phòng chống một số bệnh ung thư. Chống nhiễm trùng không chỉ đơn giản là việc vệ sinh của mỗi cá nhân mà cần có sự tham gia phối hợp của các cấp, các ngành và cả cộng đồng trong việc giữ gìn vệ sinh chung.

Sản phẩm hỗ trợ điều trị bệnh ung thư
Được nghiên cứu phối hợp từ thảo được bổ dưỡng, các sản phẩm CELLOG SP, LYMPHASOL, MINECEL giúp giải độc, tăng cường sức đề kháng, hỗ trợ điều trị ung thư, nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể...
cellogMột số nguyên nhân gây bệnh ung thư CELLOG SP lympaMột số nguyên nhân gây bệnh ung thư LYMPHASOL mineceMột số nguyên nhân gây bệnh ung thư MINECEL